Browsing "Older Posts"

Lịch sử phát triển ngành công nghiệp đồng hồ ở Nga. Phần 2:Tiến trình


Trong phần hai tôi sẽ tiếp tục giới thiệu đến độc giả lịch sử phát triển của ngành đồng hồ ở Nga. Ở phần đầu tiên, tôi chủ yếu tập trung vào nguồn gốc hình thành của ngành chế tác đồng hồ Nga, đồng thời giới thiệu một vài đặc điểm, cũng như những sự kiện quyết định quá trình sản xuất đồng hồ tại đế quốc Nga lúc bấy giờ.
Phần đầu tiên kết thúc với những ký ức về thành tựu của Ivan Kulibin. Vào đầu năm 1770, ông không chỉ tạo ra những chiếc đồng hồ không có đối thủ ở bất cứ đâu trên thế giới, mà còn đứng đầu các xưởng cơ khí của Viện hàn lâm Khoa học tại Saint-Petersburg.
Một chiếc đồng hồ bỏ túi thời Đế quốc Nga. Nguồn Alltime.ru
Tiến trình phát triển.
Những hội thảo được thành lập bởi các nhà khoa học nổi tiếng thế giới người Nga: Andrei Nartov và Mikhail Lomonosov. Các loại máy móc tuyệt vời và tinh xảo nhất được giới thiệu trong hội thảo. Rất nhiều công cụ và thiết bị trong tay của những thợ thủ công lành nghề làm việc dưới sự điều hành của Kulibin, đã mang lại cho ngành công nghiệp đồng hồ trong nước những tiến bộ vượt bậc. Ngoài đồng hồ thời đó, kính thiên văn, ống nhòm, áp kế, nhiệt kế, kính hiển vi và cân chính xác đã được sản xuất trong các xưởng thủ công. Còn bậc thầy Ivan Kulibin, mặc dù ở vị trí quản lý, nhưng hàng ngày ông vẫn đứng sau máy móc làm việc như một người thợ bình thường. Tại thời điểm đó người ta vẫn thường gọi ông là phù thủy của thế giới cơ học.
Mặt số chiếc đồng hồ "Hành tinh" được chế tác bởi Ivan Kulibin. Nguồn Alltime.ru
Kulibin biết về sự tò mò của Nữ hoàng Catherine đối với bầu trời, Và ông đã chế tạo ra những thiết bị để Nữ hoàng của mình có thể quan sát thiên văn cho thoải trí tò mò. Trong vài năm tiếp theo Kulibin đã làm một chiếc đồng hồ khác để tặng cho nữ hoàng, chiếc đồng hồ được đặt tên là “Hành tinh”. Tất nhiên, như mọi khi, cố máy của nó rất phức tạp. Trong chiếc đồng hồ “Hành tinh” của Kulibin có lịch âm (lịch mặt trăng), đồng hồ  có khả năng hiển thị các mùa. Ivan Kulibin hiểu rõ cơ chế vận hành của những chiếc đồng hồ lớn, chính vì vậy ông đã tạo ra các thiết kế cho đồng hồ tháp và đồng thời tham gia vào việc sửa chữa những cái hiện có. Ví dụ, vào năm 1779, Kulibin đã sửa chữa đồng hồ tháp của Cung điện Mùa đông.
Ivan Kulibin đã đi trước thời đại, trở thành một ví dụ sinh động về mong muốn đạt được những tiến bộ, ông đại diện cho sự khéo léo của đôi ban tay con người, mình chứng cho vai trò của cá nhân là việc có lương tâm đã giúp rất nhiều cho đế quốc Nga đạt được những đỉnh cao tuyệt vời trong ngành chế tạo đồng hồ. Tất nhiên, Kulibin không phải là cá tính sáng giá duy nhất. Có những người khác, bao gồm cả người nước ngoài.
Một trong số đó là Michael Medoks, người Anh, được mời đến Nga vào năm 1766 với tư cách là giáo viên toán học cho hoàng từ Paul (con trai của nữ hoàng Catherine), người thừa kế ngai vàng. Michael Medoks không chỉ là giáo sư toán học mà còn là nhà chế tác đồng hồ nổi tiếng. Ở Nga, ông được gọi là Mikhail Medoks, và chính ông  đã tự gọi mình như vậy trong suốt cuộc đời ở đây, chứ không sử dụng bất kỳ cái tên Nga nào khác. Hoàng hậu Catherine ủng hộ Mikhail Medoks, khi bà được nghe về những chiếc đồng hồ bỏ túi được chế tạo bởi một người Anh tài năng. Sự hiện diện của Medox trong nhà xưởng của Nữ hoàng là có lợi – bởi người nước ngoài nắm giữ những bí mật của các thợ đồng hồ sống ở các nước châu Âu, điều đó sẽ mang đến những điều mới mẻ và sự giao thoa cho nghành kỹ nghệ này. Medoks đã thử nghiệm và chết tạo ra những chiếc đồng hồ quả lắc đặt trên nền nhà (phân biệt với đồng hồ để bàn và đồng hồ treo tường), nổi tiếng nhất trong số đó là chiếc đồng hồ quả lắc do ông chế tạo đặt tại cung điện mùa đông.
Một trong số đó là Michael Medoks, người Anh, được mời đến Nga vào năm 1766 với tư cách là giáo viên toán học cho hoàng từ Paul (con trai của nữ hoàng Catherine), người thừa kế ngai vàng. Michael Medoks không chỉ là giáo sư toán học mà còn là nhà chế tác đồng hồ nổi tiếng. Ở Nga, ông được gọi là Mikhail Medoks, và chính ông  đã tự gọi mình như vậy trong suốt cuộc đời ở đây, chứ không sử dụng bất kỳ cái tên Anh nào khác. Hoàng hậu Catherine ủng hộ Mikhail Medoks, khi bà được nghe về những chiếc đồng hồ bỏ túi được chế tạo bởi một người Anh tài năng. Sự hiện diện của Medoks trong nhà xưởng của Nữ hoàng là có lợi – bởi người nước ngoài nắm giữ những bí mật của các thợ đồng hồ sống ở các nước châu Âu, điều đó sẽ mang đến những điều mới mẻ và sự giao thoa cho ngành kỹ nghệ này. Medoks đã thử nghiệm và chết tạo ra những chiếc đồng hồ quả lắc đặt trên nền nhà (phân biệt với đồng hồ để bàn và đồng hồ treo tường), nổi tiếng nhất trong số đó là chiếc đồng hồ quả lắc do ông chế tạo đặt tại cung điện mùa đông mang tên "Temple of Glory".
Đồng hồ "Temple of Glory" của Michael Medoks
Đồng hồ "Temple of Glory" có thiết kế cực kỳ phức tạp và đã trở thành một viên ngọc thực sự của ngành công nghiệp đồng hồ ở Nga. Tất nhiên, luôn có những người muốn lập luận rằng chiếc đồng hồ này không thể được coi là một thành tựu của Nga. Vâng, trong lịch sử Nga, đặc biết là thời kỳ Sa hoàng rất nhiều người nước ngoài được mời đến làm việc, tất nhiên họ có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nước, và sự đóng góp này đã được tất cả mọi người công nhận. Nhà khoa học nổi tiếng Vladimir Dahl sẽ không bị lãng quên, ông là người Đan Mạch bị Nga hóa và luôn coi mình là người Nga. Ngày nay, Dahl được coi là một người Nga thực sự. Thơ ca của Mikhail Lermontov đã làm phong phú nền văn hóa của nước Nga - trong khi Lermontov lại là một người Scot. Điều tương tự cũng xảy ra với chiếc đồng hồ “Temple of Glory” – ngay cả khi chúng được sản xuất bởi một người Anh, nhưng được chế tạo để trở thành tài sản của Nga. Tuy nhiên, chúng ta hãy tập trung vào bộ máy bên trong của chiếc đồng hồ này một cách chi tiết hơn, bởi đó mới là điều đáng quan tâm chứ không phải tranh cãi về nguồn gốc của người tạo ra nó.
Vào một thời điểm xác định, chiếc đồng hồ bằng hợp kim của đồng mạ vàng này bắt đầu ngân vang bài thánh ca. Bức màn bao quanh các cột nổi lên. Các ống tinh thể bên trong các cột quay, tạo hiệu ứng ánh nắng mặt trời. Cùng lúc đó, cánh cửa của hộp nhạc mở ra, phía sau là một thác nước tuyệt đẹp. Hình ảnh nước chảy được tạo ra bởi một bộ ống tinh thể riêng biệt xoay quanh trục của nó và di chuyển theo chiều dọc. Những bông hoa tulip lớn bắt đầu nở rộ và chúng ta có thể quan sát thấy con đại bàng hai đầu quốc huy của đế quốc Nga trên nhụy hoa. Những con đại bàng, nằm trên đỉnh của các cột mạ vàng, thả những viên ngọc trai vào mỏ những chú gà trống. Tất cả điều này diễn ra nhờ một cỗ máy duy nhất.
Đồng hồ “Temple of Glory” đã được Medox tạo ra như một món quà tang cho Nữ hoàng Catherine. Tuy nhiên thật tiếc bà đã không thể đươc một lần chiêm ngưỡng kiệt tác này – lý do cho điều này là cái chết của Nữ hoàng vào năm 1796, trước khi chiếc đồng hồ được hoàn thành. Mikhail Medoks đã làm việc từ năm 1793 đến 1806, tức 13 năm ròng rã để tạo ra kiệt tác cơ khí này. Ngày nay, chiếc đồng hồ Temple of Glory, được trưng bày tại bảo tàng Vũ khí hoàng gia Moscow.

Nhưng không chỉ đồng và kim loại đã được sử dụng trong sản xuất đồng hồ. Nga đã trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới với một chiếc đồng hồ làm bằng gỗ, thậm trí cả bộ máy phức tạp! bậc thầy chế tạo đồng hồ Bronnikov đã tạo ra kiệt tác khác thường này.
Gia đình Bronnikovs
Gia đình Bronnikovs đến từ một ngôi làng nhỏ thuộc quận Sloboda của tỉnh Vyatka. Ban đầu người thủ công của gia đình này không hướng sự chú ý của mình vào việc sản xuất đồng hồ, mà họ thích thú với việc tạo ra nhạc cụ hòa tấu, những chiếc bút thủ công, đồ nội thất, thậm trí là quan tài gỗ. Nổi tiếng nhất trong số những người thợ của dòng họ Bronnikov là Ivan (1772 - 1847), nghệ thuật khắc gỗ được truyền lại cho ông bằng sự kế thừa truyền thống lâu đời của gia đình. Ivan có một con trai Semyon (1811-1875), người sau này cũng tiếp tục công việc vinh quang của tổ tiên để lại.
Theo truyền thuyết, một ngày nọ, một nhân viên từ thành phố đến làng. Anh đến thăm nhà Bronnikovs, bắt gặp Semyon ở đó. Người nhân viên đưa cho Semyon một chiếc đồng hồ vàng bỏ túi mà trước đây không ai trong làng từng nhìn thấy, kể cả Semyon Bronnikov. Từ thời điểm đó, những suy nghĩ về việc tạo ra một chiếc đồng hồ tương tự, nhưng từ gỗ, đã luôn xuất hiện trong đầu của chủ nhân. Semyon ngay lặp tức bắt tay vào công việc chế tạo đồng hồ, các bộ phận được cắt cẩn thận, mài, đánh bóng cho bộ máy đồng hồ. Mọi người từ khắp nơi, đã quen với việc mua những chiếc quan tài, đồ nội thất từ Nhà Bronnikov, bắt đầu bày tỏ sự không hài lòng khi ông chủ Semyon liên tục bận rộn với việc chế tạo đồng hồ và từ chối những những đơn đặt hàng của những người khác quen, vì không đủ thời gian cho việc đó. Những lời lăng mạ của kẻ thù xuất hiện nhiều hơn, nhưng không làm Semyon bận tâm mà chỉ càng khiến ông quyết tâm đạt được mục tiêu của mình.

Tin đồn về việc Semyon hóa điên đã đến tay các quan chức địa phương. Họ quyết định gửi ông đến bệnh viện tâm thần – lúc bấy giờ là ngôi nhà dành cho những kẻ mất trí. Tuy nhiên các bác sĩ không chấp nhận ông, vì họ tin rằng sức khỏe và tinh thần của Semyon hoàn toàn tốt. Tuy nhiên, nhân viên bệnh viện đã ám chỉ với ông rằng họ không muốn nhận lệnh từ quan chức chính phủ trong việc đưa ông trở lại bênh viện, vì vậy họ yêu cầu Semyon từ bỏ ý tưởng chế tạo đồng hồ và quay trở lại với những tác phẩm điêu khắc mà dòng họ ông đã làm bao đời nay. Chính vì vậy, Semyon hứa với các bác sĩ rằng ông sẽ không chế tạo đồng hồ nữa, mà quay trở lại với công việc cũ. Tất nhiên với danh tiếng và tài năng của mình, mọi người lại bắt đầu tụ tập tại nhà của Bronnikov để lấy quan tài và đồ nội thất.
Nhưng ông chủ của nhà xướng Bronnikov không bỏ cuộc, Semyon bí mật hoàn thiện chiếc đồng hồ của mình. Phải mất 6 năm để hoàn thành ý tưởng của mình, chiếc đồng hồ đã sẵn sàng ra mắt. Đó là một chiếc đồng hồ bỏ túi bằng gỗ có vẻ đẹp phi thường, đường kính 3,5 cm. Hộp và vỏ đồng hồ làm hòa toàn từ gỗ bạch dương. Cỗ máy, mặt số và dây đeo được làm bằng cây cọ. Dây cót, bạn thử đoán xem chúng làm từ chất liệu gì? chỉ cần nghĩ về điều này thôi tôi nghĩ tại thời điểm đó Semyon Bronnikov chắc chắn phải rất đau đầu, cuối cùng ông làm dây cót từ tre cứng! Kim giờ và kim giây được làm từ cây kim ngân. Cọc số và kim phút được phủ bằng xà cừ (khảm trai).
Đồng hồ làm bằng gỗ của Bronnikov. Nguồn vostok-clock.nethouse.ru

Vài ngày sau, cả tỉnh nói về chiếc đồng hồ tuyệt vời. Những lời chỉ trích đáng ghen tị và cay độc của ngày hôm qua, giờ đây đã trở thành lời ngợi ca sự sáng tạo và tài năng của Semyon Bronnikov. Những nhà quý tộc giàu có xếp hàng với hy vọng mua được chiếc đồng hồ bằng gỗ kỳ lạ. Nhưng Semyon đã không bán no. Và hôm nay, sau nhiều, rất nhiều năm, chúng ta ngưỡng mộ sức chịu đựng của người đàn ông này, bằng niềm tin vào chính mình và tài năng ông đã để lại một kiết tác cho nước Nga nói riêng và thế giới nói chung. Bạn có thể xem video về chiếc đồng hồ này Tại đây.
Câu chuyện về một kỷ nguyên mà cuộc cách mạng chế tác đồng hồ không thể  hoàn thành nếu không đề cập đến một vài cái tên, dòng họ. Trong khuân khổ bài viết này tôi muốn giới thiệu đến phó vương Grigory Potemkin (người tình nổi tiếng nhất của Nữ hoàng Ekaterina đại để), xưởng sản xuất đồng hồ của ông là một trong số hàng tá những xưởng đông hồ nổi tiếng phục vụ đế quốc Nga lúc bây giờ. Nhưng xưởng chế tạo đồng hồ Potemkin sẽ không thành công nếu không có sự tham gia của nhà chế tác đồng hồ Thụy Điển Peter Nordstein. Năm 1775, Nordstein trở thành bậc thầy chế tác tại nhà máy Potemkin ở Dubrovno. Phó vương Potemkin đã tài trợ cho người thợ Thủy Điển 12 nghìn rúp trong 10 năm (vào thời đó đây là một số tiền khổng lồ), sau đó Nordstein đã tuyển dụng 33 chàng trai trẻ trong số các gia đình thiên chúa giáo. Trong thời gian ngắn nhất, Peter Nordstein đã dạy cho người thợ trẻ công việc của mình để họ có thể khắc, mạ vàng và làm vỏ đồng hồ. Họ biết, thông thạo tất cả những kỹ thuật phức tạp của quá trình tráng men, xử lý lò xo, bắt đầu có thể tự chế tạo các bộ phận, chi tiết. Mọi thứ không chỉ giới hạn ở đồng hồ bỏ túi - "Potemkinites" (những người thợ làm trong xưởng của Potemkin) đã thành công trong việc sản xuất những chiếc đồng hồ lớn (đồng hô treo tường và đồng hồ để bàn), Thậm trí cả những chiếc đồng hồ trên các tòa tháp.
Đồng hồ bỏ túi Pavel Bure. Nguồn Alltime
Năm 1815 trở thành thời điểm thành lập thương hiệu Pavel Bure. Những người hâm mộ khúc côn cầu, gần như sẽ biết tới cầu thủ khúc côn cầu nổi tiếng Pavel Bure, người đã nhận được biệt danh “Russian Rocket” ở Mỹ vào giữa những năm 90 của thế kỷ 20, là hậu duệ của người sáng lập nhà đồng hồ Bure.

Những mẫu đồng hồ bỏ túi của Pavel Bure. Nguồn Alltime.ru
Các trang lịch sử tiếp theo của đồng hồ Nga và hãng Bure cùng với một vài công ty, trở thành trang cuối cùng trong ngành đồng hồ của nước Nga thời tiền cách mạng. Chúng ta sẽ nói về điều này nhiều hơn nữa trong phần tiếp theo Phần 3.

Độc giả có thể tiếp tục đọc phần 3 của bài viết tại đây

Bài viết liên quan:





Sunday, May 31, 2020

Lịch sử phát triển ngành công nghiệp đồng hồ ở Nga. Phần 1: Nguồn gốc ra đời.



Từ xưa đến nay đồng hồ Thụy Sĩ luôn được coi là tiêu chuẩn cho chất lượng và đỉnh cao của nghệ thuật cơ khí. Tuy nhiên, số lượng người thích đồng hồ Đức, đồng hồ Ý, đồng hồ Nhật, đồng hồ Mỹ cũng không ít. Vậy đồng hồ Nga thì sao? Liệu nước Nga có cung cấp cho thị trường những chiếc đồng hồ những chiếc đồng hồ đủ tốt? Như những bài viết trước đây về lịch sử các nhà máy sản xuất đồng hồ thời Xô Viết, cá nhân tôi có nhấn mạnh rằng ngành công nghiệp sản xuất đồng hồ ở Nga có những nét độc đáo của riêng mình, và tất nhiên không giống với bất kỳ nền công nghiệp chế tạo đồng hồ nào từng tồn tại trên thế giới, vậy hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về lịch sử chế tạo đồng hồ của Nga từ thủa sơ khai! Chúng ta có thể tự hào về bất cứ điều gì ngày hôm nay? Điều gì chờ đợi chúng ta vào ngày mai? Ngành công nghiệp đồng hồ của Nga đã có thời phát triển rực rỡ, vậy tại sao bây giờ chúng lại sụp đổ, để đến khi nhắc đến người ta chỉ nhớ đến những chiếc đồng hồ đã chế tạo từ 40-60 năm trước? Để tránh lặp lại những sai lầm trong quá khứ và giành chiến thắng ở thời điểm hiện tại, đồng thời hướng đến tương lai, tôi nghĩ, chúng ta phải cho mọi người biết rõ quá khứ. Vậy thì còn chần chừ gì nữa hãy bắt đầu nào!

Nữ hoàng Catherine II. Nguồn alltime.ru
Nga, giống như bất kỳ quốc gia nào khác, chiếc đồng hồ tạo ra đầu tiên ở đây không phải đồng hồ bỏ túi, và chắc chắn càng không phải là đồng hồ đeo tay. Đồng hồ đầu tiên được chế tạo ở Nga là đồng hồ tháp. Trong suốt nhiều thế kỷ, trong các trang biên niên sử đã thống nhất một dấu mốc vào năm 1404, trên tòa tháp đá của điện Kremlin người ta đã lắp đặt một chiếc đồng hồ rất nổi bật. Điều này đã được thực hiện theo yêu cầu của Hoàng tử Vasily (con trai của Dmitry Donskoy). Sự kiện này là điểm khởi đầu trong lịch sử ngành công nghiệp đồng hồ ở Nga.
Những chiếc đồng hồ tháp. nguồn: alltime.ru
Người tạo ra chiếc đồng hồ đầu tiên đó là cha đạo Lazar Serbin (Serbin là họ có nguồn gốc từ Serbia). Ông là một người hết sức bí ẩn, không ai biết về cách thức và nơi ông học chế tạo đồng hồ, cũng như cách ông thiết kết ra bộ máy cơ học tính giờ đầu tiên này cho nước Nga. Chỉ có một điều chắc chắn: vào thời điểm đó ở Moscow, người ta có thể gặp nhiều người Serbia và Hy Lạp, cũng như người Bulgaria đã rời khỏi Balkan do cuộc chiến với người Thổ Nhĩ Kỳ. Người Serbia và người Hy Lạp chuyển đến những nơi có cùng đức tin với họ, một trong số đó là Moscow bởi nước Nga lúc này theo đạo chính thống giáo phương Đông.

Vào thế kỷ XVI, đồng hồ đã xuất hiện trên nhiều tháp của các pháo đài và tu viện. Vì vậy, vào năm 1539, Simeon, một thợ làm đồng hồ từ Novgorod, đã chế tạo đồng hồ tháp cho Tu viện Solovetsky. Bộ máy của chiếc đồng hồ này đã bấm lỗ thời gian từ nửa giờ đến một giờ (tức là đồng hồ chạy chậm 0.5 đến 1h), các thiết lập của nó khác nhau cho thời gian ban ngày và ban đêm. Bộ máy của thợ sửa đồng hồ Simeon (hiện nay các nhà sử học vẫn tranh cãi về tên của người thợ sửa đồng hồ, tuy nhiên trong bài viết này tôi vẫn sẽ gọi là Simeon) đã được tạo với chất lượng cao đến mức nó trở nên nổi tiếng vượt xa khỏi biên giới Nga. Các bậc thầy về chế tác đồng hồ ở châu Âu đã đến xem cỗ máy này và đã công nhận chiếc đồng hồ tháp của tu viện Solovetsky là một trong những chiếc đồng hồ tháp tốt nhất ở châu Âu lúc bấy giờ. Đồng hồ của bậc thầy Simeon hoạt động cho đến đầu thế kỷ 20, tức là  gần 500 năm, hiện tại bộ máy của nó được lưu trữ trong Bảo tàng Kolologistsky ở Moscow cùng với bộ máy của đồng hồ tháp của Tu viện Nicolo - Perervinsky.
Thế kỷ XVII được đánh dấu bằng những tên tuổi và khám phá mới: tại Moscow, một hiệp hội các nhà chế tác đồng hồ độc lập bắt đầu hoạt động, tin đồn về sự sáng tạo của họ lan sang các thành phố và quốc gia khác. Từ những tòa tháp lớn đến ngón tay, người thợ kim hoàn đồng thời cũng là thợ sửa đồng hồ Moses Terentyev đã tạo ra một chiếc đồng hồ đặc biệt cho Sa hoàng vào năm 1620 – một chiếc nhẫn với khả năng hiểm thị giờ. Theo lệnh của Sa hoàng Aleksei Mikhailovich (cha đẻ của Fedor III, Ivan V, Pie Đại đế), một chiếc hộp độc đáo được trang trí bằng một chiếc đồng hồ đã được tạo ra.
Thế kỷ XVII, ngành công nghiệp đồng hồ tại đế quốc Nga đã phát triển rất hưng thịnh với các giải pháp kỹ thuật độc đáo và nguyên liệu xa xỉ. Người thợ thủ công mất nhiều năm chỉ để tạo ra một chiếc đồng hồ, đơn đặt hàng thưởng chỉ đến từ những nhà quý tộc, kém theo mức tiền công hậu hĩnh. Ví dụ, Catherine II (Catheine Đại đế) đã nhận được một chiếc đồng hồ được làm dưới dạng một nhạc cụ lyre, được làm bằng đồng mạ vàng. Đồng hồ được chế tạo ra như như một chiếc áo choàng thể hiện lòng trung thành và sự phục vụ đối với người cai trị.
Chân dung Ivan Kulibin. Nguồn Alltime.ru
Nữ hoàng Catherine nói chung đã không bỏ lỡ cơ hội để bổ sung bộ sưu tập đồ xa xỉ của mình. Đồng hồ “quả trứng” của nhà phát minh nổi tiếng Ivan Petrovich Kulibin, một thiên tài tự học, bao gồm 427 chi tiết. Kulibin đã dùng đôi ban tay khéo léo của mình để đưa cơ chế phức tạp này vào một vật thể có kích thước bằng một quả trứng ngỗng. Chiếc đồng hồ “quả trứng” huyền thoại đã được Kulibin hoàn thành vào tháng 3 năm 1769, sau đó nó được trao cho Catherine II.
Ivan Kulibin giới thiệu cho Nữ hoàng Catherine II chiếc đồng hồ quả trứng. Nguồn Vkontakte
Trong chiếc đồng hồ này, Kulibin đã tạo ra một bộ máy đồng hồ vô cùng tinh sảo. Bộ máy này có thể tái tạo một số giai điệu âm nhạc, và đáng kinh ngạc nhất bên trong là cả một nhà hát nhỏ. Mỗi giờ, những cánh cửa nhỏ mở ra để chúng ta có thể quan sát phía trong nơi đặt Empty tomb – quan tài của Chúa (chắc anh em theo đạo sẽ biết). Sau cảnh cửa, hai chiến binh đứng gác, sau một khoảng thời gian, từ phía của xuất hiện một thiên thần. Sau đó hòn đá gần cánh cửa rơi xuống, nắp quan tài mở ra, lính canh ngã xuống đất. Ba mươi giây sau, tiếng chuông vang lên lời cầu nguyện "Chúa Kitô phục sinh", cánh cửa đóng sầm lại. Nhà hát được kích hoạt bằng một nút đặc biệt trong trường hợp có mong muốn ngay lập tức có thể lặp lại buổi biểu diễn.
Đồng hồ "quả trứng" chế tạo bởi Kulibin. Nguồn Alltime.ru
Nữ hoàng rất ấn tượng với chiếc đồng hồ cảu bậc thầy chế tác đến nỗi bà mời ông đứng đầu các xưởng cơ khí của Viện hàn lâm Khoa học. Kulibin đồng ý! Ngày này có thể được coi là sự khởi đầu của một giai đoạn mới trong sự phát triển của Kulibin như một người mãi mãi để lại dấu ấn trong lịch sử chế tác đồng hồ thế giới. Ngày nay, chiếc đồng hồ huyền thoại của ông được giữ trong viện bảo tàng Hermitage tại Saint-Petersburg.
Cũng tại viện bảo tang này, chiếc đồng hồ chim công Peacock nổi tiếng không kém, được mua bởi Phó vương Grigory Potemkin từ nhà chế tác đồng hồ người Anh lừng danh lúc bấy giờ James Cox, cũng được trưng bày. Đồng hồ Peacock là một món quà từ Potemkin tặng Nữ hoàng Catherine II – người có đóng góp cá nhân rất nhiều cho sự phát triển của ngành đồng hồ ở Nga.
Đồng hồ chim công Peacock. nguồn Alltime.ru
Đồng hồ của Peacock được lắp ráp một cách khác thường, không theo tiêu chuẩn ngày nay. Chúng có bốn cơ chế, một đồng hồ và ba cơ chế còn lại, chịu trách nhiệm cho sự chuyển động của toàn bộ những con vật ở trong chiếc đồng hồ. Đồng hồ được vận chuyển từ London dưới dạng đã tháo rời từng bộ phận, và ai đã lắp ráp hoàn chỉnh lại? Không ai khác chính Ivan Kulibin, người lúc đó đã tham gia không chỉ vào việc sản xuất đồng hồ của riêng mình, mà ông còn lắp ráp và cải tiến các đồng hồ mẫu nước ngoài phức tạp nhất.
Kulibin lắp ráp và cải tiến chiếc đồng hồ chim công.

Chúng ta sẽ nói về điều này trong phần tiếp theo. Tôi xin dừng lại phần 1 của bài viết. Độc giả có thể đọc tiếp phần 2 tại đây


Video liên quan:

Bài viết liên quan:

Thursday, May 21, 2020

Đồng hồ Pobeda: Sự đặc sắc đến từ những chiếc kim rốn. Phần 2


Tiếp tục bài viết "Đồng hồ Pobeda: Sự đặc sắc đến từ những chiếc kim rốn", xin gửi đến độc giả phần 2 của bài viết.
Lưu ý rằng tại Nhà máy đồng hồ số 1, đồng hồ Pobeda được sản xuất cho đến đầu những năm 1960. Nhân tiện, phiên bản Pobeda đầu tiên của nhà máy Petrodvorets  (nhà máy đồng hồ Raketa) trên mặt số có triện TTK-1, điều này rõ ràng đã chứng minh rằng, những chiếc đồng hồ đã được nhà máy cho ra mắt trước năm 1954, chính vì vậy đây là những mẫu đồng hồ rất đáng để sưu tầm.

Đồng hồ Pobeda sản xuất tại nhà máy TTK (Nhà máy Raketa), năm 1954

Các kỹ sư chế tác đồng hồ đã tạo ra một số cải tiến trong thiết kế caliber K-26, đặc biệt là việc cho ra mắt phiên bản Pobeda với kim giây trung tâm sử dụng calibre 2608 đã được phát triển dựa trên caliber K-26.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, việc sản xuất những chiếc đồng hồ Pobeda đeo tay với kim rốn vẫn còn phổ biến, việc sản xuất những chiếc Pobeda với kim giây trung tâm chỉ chiếm một phần mười tổng sản lượng của những chiếc đồng hồ mang thương hiệu này, từng được sản xuất.

Đồng hồ Pobeda mặt đen với cọc số dạ quang sản xuất tại nhà máy Petrodvorets, năm 1965. Nguồn: www.ussrtime.com

Các nhà máy đồng hồ khác cùng với nhà máy đồng hồ số 1 (MCHZ 1) đã tham gia vào việc hoàn thiện dự án K-26. Ví dụ, trong những chiếc Pobeda sản xuất bởi 1MCHZ, Petrodvorets và ChChZ đã trang bị cho cỗ máy một thiết bị chống sốc trên trục cân bằng, cơ chế này được đưa vào trong cả những chiếc Pobeda kim giây nhỏ (kim rốn) và kim gây trung tâm, ngoài ra, những chiếc đồng hồ được phát hành với bộ vỏ có khả năng chống bụi, cùng với đó là bộ kim và cọc số được phủ dạ quang. Xin lưu ý một chút, trong một trích dẫn từ danh mục (catalog) của Raznoeksport 1953, rất có thể, dạ quang được sử dụng trên bộ kim và cọc số là phốt pho radium, vì vậy hãy cẩn thận khi sử dụng những chiếc đồng hồ này, bởi đây là những chất phát sáng gây hại!!!

Đồng hồ Pobeda sản xuất tại nhà máy đồng hồ số 2 Moscow, năm 1957. Nguồn: www.ussrtime.com

Bắt đầu từ những năm 1950, đồng hồ Pobeda xuất hiện với rất nhiều phiên bản thiết kế mặt số khác nhau, một số trong số đó, do sự hiếm chúng đã trở thành mối quan tâm của những nhà sưu tập đồng hồ Liên Xô, ví dụ, những chiếc Druzhba (tình bạn) – tượng trưng cho mối quan hệ hữu hảo giữa Liên Xô và Trung Quốc lúc bấy giờ, được sản xuất cho đến năm 1956, chắc sau này do mối quan hệ dần đi xuống nên chúng không được tiếp tục sản xuất nữa.
Những chiếc Pobeda Druzhba thực sự rất đẹp, và những nhà sưu tầm thường thích thú với những kiểu mặt số sau: mặt số đen trắng hai màu (sản xuất tại nhà máy ZiM), mặt số kiểu quân đội màu đen (1MCHZ và 2MCHZ), mặt số được đánh dấu theo ngành (ZiM), mặt số kiểu Bồ Đào Nha (1MCHZ, ChChZ), với một ngôi sao trên mặt số (ZiM, có một phiên bản ấn tượng của những chiếc đồng hồ như vậy với mặt số màu đen) hoặc biểu tượng của một nhà máy đặt trong hình thoi (Petrodvorets).

Đồng hồ Pobeda mặt số hai mà sản xuất tại nhà máy ZiM, những năm 50. Nguồn: www.ussrtime.com

Đã nhiều năm trôi qua kể từ ngày ra mắt nhưng những chiếc đồng hồ Pobeda vẫn không mất đi giá trị của mình. Cho đến đầu những năm 2000 – những chiếc Pobeda dựa trên caliber K-26, được sản xuất bởi nhà máy ZAV mang tên Maslennikov, tuy nhiên, cần phải công nhận, trong vài thập kỷ qua, chất lượng hiệu suất của chiếc đồng hồ này rõ ràng không đạt được yêu cầu, dù trước đó nó đã từng là huyền thoại.
Gần đây nhất, vào năm 2015, nhà máy Petrodvorets đã nối lại việc sản xuất đồng hồ Pobeda, tuy nhiên thật đáng buồn chúng lại sử dụng cỗ máy thạch anh, chứ không phải là cơ khí như trước đây. Với cá nhân tôi có lẽ đây là kết thúc buồn cho thương hiệu huyền thoại một thời. Tôi vẫn hi vọng, trong tương lai, khi nền kinh tế Nga hồi phục sẽ kéo theo nền công nghiệp sản xuất đồng hồ phát triển trở lại, như đã từng làm mưa làm gió ở thập niên 60 của thế kỷ trước.
Cuối cùng chúc toàn thể bạn đọc đón ngày lễ chiến thắng vui vẻ bên người thân, mong cho dịch bệnh Covid-19 nhanh kết thúc, để cá nhân tôi cũng như mọi người có thể tận hưởng một mùa hè tuyệt vời.

Bài viết liên quan:

Theo dõi kênh review đồng hồ Liên Xô của mình tại đây

Thursday, May 14, 2020

Đồng hồ Pobeda: Sự đặc sắc đến từ những chiếc kim rốn. Phần 1


Nhân kỷ niệm 75 năm chiến thắng Phát xít Đức hôm nay mình xin gửi đến bạn đọc theo dõi blog watchussr bài viết “Đồng hồ Pobeda. Sự đặc sắc đến từ những chiếc kim rốn”.

Thời đại Xô Viết để lại cho nước Nga nói riêng và thế giới nói chung một di sản đồng hồ to lớn với những nét đặc sắc rất riêng mà có lẽ không nơi chế tác đồng hồ nào trên thế giới có thể lặp lại. Từ những năm 1930 đến cuối những năm 1990, đã có mười chín doanh nghiệp nhà nước tham gia sản xuất ra những chiếc đồng hồ khác nhau, đôi khi chúng được sao chép lại chính của nhau do đặc thù của nền kinh tế chỉ huy, tuy nhiên mỗi doanh nghiệp vẫn có những nét riêng biệt để thích nghi với thị trường. Trong thời kỳ các dây chuyền sản xuất công nghiệp tối ưu hóa hàng chục caliber được đưa vào sản xuất đại trà chính điều này đã trở thành cơ sở cho việc tăng tốc độ lắp ráp và hoàn thiện đồng hồ. Chính vì thế đã có hàng triệu bản được sản xuất dưới nhiều thương hiệu đồng hồ khác nhau, và người ta ước tính được có khoảng trên dưới một trăm thương hiệu đã ra đời trong vỏn vẹn 60 năm lịch sử tồn tại ngành công nghiệp đồng hồ Liên Xô.

Một chiếc đồng hồ Pobeda vàng đúc, sản xuất tại nhà máy đồng hồ số 1 năm 1954. 
Nguồn: www.ussrtime.com

Trong tất cả các di sản rộng lớn, thật đáng tiếc khi những thông tin đáng tin cậy bị thiếu hoặc bị giấu kín do đặc thù xây dựng ngành công nghiệp đồng hồ Liên Xô dựa trên cơ sở kinh tế chỉ huy, kế hoạch. Trong sự vận hành này những công thức kế toán và sự kiểm soát hoạt động của các nhà máy luôn bị giám sát bởi những quan chức trong xã hội chủ nghĩa, điều này dẫn đến sự làm việc chính xác như một chiếc đồng hồ và đôi khi lại đánh mất đi sự sáng tạo trong công việc.

Bộ máy K-26 sử dụng trong những chiếc Pobeda. Nguồn: www.ussrtime.com

Nói qua một chút về lịch sử để nhấn mạnh rằng điều đó sẽ ảnh hưởng đến sự ra đời và phát triển của những chiếc đồng hồ Pobeda. Bởi ngày kỷ niệm chiến thắng Phát xít Đức đang đến gần, đó là lý do mà bài viết hôm nay tôi đề cập đến những chiếc đồng hồ tuyệt vời này.

“Pobeda” là một trong những thương hiệu đồng hồ thời Liên Xô không gắn liền với một doanh nghiệp cụ thể. Sự ra đời của thương hiệu này được bao quanh bởi các truyền thuyết – đến mức người ta tin rằng các nhà chức trách cao nhất của Liên bang Xô Viết, mà đại diện lúc bấy giờ Stalin đã tự tay phê duyệt thiết kế, cũng như một số đặc điểm kỹ thuật của chiếc đồng hồ thời điểm nó ra đời.

Điều đó có đúng hay không – tôi không thể khẳng định, ít nhất là cho đến khi tôi nhận được các bản sao của tài liệu lưu trữ có liên quan trong tay, hiện tại thì tôi chỉ biết hi vọng rằng chúng tồn tại. Vì vậy, theo truyền thuyết, quyết định sản xuất những chiếc đồng hồ Pobeda đã được đưa ra vào mùa xuân năm 1945 như một lời dự báo cho chiến thắng, và các bản sao đầu tiên đã được phát hành trong quý đầu tiên của năm sau đó, tức năm 1946.

Với thời hạn này, việc chuẩn bị cho việc sản xuất hàng loạt đồng hồ cơ truyền thống hầu như không thực tế và khả thi bởi những sự tàn phá khủng khiếp của chiến tranh, cùng với đó là những mất mát mà Liên Xô phải gánh chịu, nhưng thực tế, sự phát triển của đồng hồ đã bắt đầu ngay cả trước chiến tranh, cụ thể vào năm 1936, khi có sự tham gia của các chuyên gia từ công ty đồng hồ Pháp Lip SA d'Horlogerie ở Penza, cơ sở của Nhà máy mang tên Frunze đã tạo ra những chiếc đồng hồ đầu tiên từ con số 0.

Công ty Lip, theo hợp đồng, cũng cung cấp cho phía Liên Xô tài liệu kỹ thuật cho một số cơ chế, bao gồm một caliber R26 (R – round, tròn), sau đó nhà máy bắt đầu tự chủ và phát triển thành caliber K-26 (K –  круглый, vòng tròn). Đó là calibre tầm cỡ đầu tiên được lắp trên những chiếc Pobeda, Sau đó người ta đã tạo ra một biến thể là caliber 2602 với kim giây ở trung tâm.

Việc sản xuất, dễ hiểu, đã bị dừng lại vào năm 1939 do Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ - người Pháp đã bại trận trước sức mạnh hủy diệt của Phát xít lúc bấy giờ, tuy nhiên trong hoàn cảnh đó một dự án khác được khởi xướng cùng với công ty Lip – chiếc đồng hồ "Zvezda - ngôi sao" chạy caliber T-18. Sau này, dự án K-26 đã được khởi động lại vào năm 1945, và thật thú vị, Nhà máy đồng hồ số 1 Moscow (lúc bấy giờ mang tên Kirov) cũng bắt đầu sản xuất trở lại đầu năm 1946.

Chiếc Pobeda vỏ bằng bạc đúc sản xuất tại nhà máy Penza năm 1946. Nguồn: www.ussrtime.com

Vậy ai đã lãnh đạo dự án này, Penza hay Moscow? Rất có khả năng ngoài thành phần kỹ thuật thì thiết kế của các mô hình ban đầu cũng được thỏa thuận, tương ứng với truyền thuyết về sự chấp thuận cao nhất từ lãnh tụ tối cao của LB Xô Viết. Chiếc đồng hồ mới với cái tên cũ "Pobeda” cọc số học trò với góc 12h sơn màu đỏ nổi bật trên nền mặt số màu trắng mờ, kim giờ và kim phút làm các điểu vô cùng đẹp mắt. Đây là phiên bản đầu tiên của “Pobeda” sau chiến tranh, những chiếc Pobeda vở bạc ra mắt năm 1946 có thể nói giấc mơ ngọt ngào của những nhà sưu tập đồng hồ Liên Xô.

Cỗ máy 15 chân kính lên cót tay của chiếc Pobeda bạc đúc. Nguồn: www.ussrtime.com

Từ quan điểm kỹ thuật và thực tế, có thể nói rằng Pobeda là một dự án hoàn toàn thành công – hộp cót với lò xo uốn lượn mạnh mẽ đã giúp cho cỗ máy tích cót được 34 giờ với khi lên full, bộ máy đơn giản, không rườm rà, cấu trúc vững chắc trên 15 chân kính làm từ đá rubi giúp cho chiếc đồng hồ luôn hoạt động ổn định và bền bỉ. Chính vì vậy, những chiếc đồng hồ “Pobeda” thường được sử dụng cho đến khi nó bị hao mòn hoàn toàn, khi mọi sửa chữa đều vô nghĩa. Tất nhiên caliber K-26 cũng ghi nhận những khiến khuyết khi vận hành, một trong số đó là thiếu khả năng chống sốc trên trục cân bằng.

Đồng hồ Pobeda cọc số 12h sơn đỏ, năm 1947. Nguồn: www.ussrtime.com

Các chân cân bằng dễ dàng bị phá vỡ, do đó, trong những chiếc đồng hồ Pobeda cũ, thường lắp bánh xe cân bằng từ các cơ chế của các nhà máy khác điều này dẫn đến sự thay đổi trong cấu trúc máy, đặc biệt là cầu nối. Đây là một cơn ác mộng thực sự cho những nhà sưu tập muốn tìm kiếm những chiếc đồng hồ nguyên trạng! Ngoài ra, điểm yếu của K-26 là trục của kim giây nhỏ quá mỏng và không có chân kính trung tâm (trên trục của bánh xe phút), điều này ảnh hưởng khá lớn đến độ chính xác của chiếc đồng hồ, đồng thời đẩy nhanh tốc độ hao mòn của máy.

Ngay sau thanh công của viếc giới thiệu trở lại thương hiệu đồng hồ mang tính biểu tượng của lịch sử - Pobeda, một bước ngoặt đã xảy ra với nhàu máy đồng hồ Penza. Vào năm 1949, những nhà lãnh đạo đã quyết định định hướng lại việc sản xuất của Nhà máy, theo đó nhà máy đồng hồ Penza chỉ tập trung sản xuất đồng hồ nữ, vì vậy việc sản xuất đồng hồ Pobeda đã được chuyển từ Penza sang các doanh nghiệp khác trong ngành.


Đồng hồ Pobeda sản xuất tại nhà máy đồng hồ Chistopol, năm 1954
Có bằng chứng cho thấy vào năm 1949, nhà máy Penza đã sản xuất caliber K-26 và đồng hồ “Pobeda” cho Chistopol (Nhà máy đồng hồ Chistopol) và Kuibyshev (Nhà máy ZiM, Maslennikov), và Nhà máy Đồng hồ số 1 đã giúp thiết lập việc sản xuất đồng hồ Pobeda cho nhà máy đồng hồ số 2 và nhà máy Petrodvorets (cho đến trước năm 1954, sau này được gọi là Nhà máy Cơ khí Chính xác Nhà nước đầu tiên – TTK-1).
Hết phần 1 ....

Bài viết liên quan:
Video liên quan:




Saturday, May 9, 2020

Những cỗ máy đồng hồ tốt và bền bỉ nhất của Liên Xô. Phần 1



Xin chào độc giả của blog Watchussr, hôm nay, tôi xin gửi đến bạn đọc bài viết “Những cỗ máy đồng hồ tốt và bền bỉ nhất của Liên Xô”, bài viết này là bản dịch mà tôi đọc được trên diễn đàn đồng hồ board.german242.com được thực hiện theo cảm nhận của một thợ sửa đồng hồ lâu năm tại LB Nga. Đối với những người sưu tầm đồng hồ Liên Xô cá nhân tôi thấy đây là một bài viết rất hay và đáng để tham khảo. Tôi sẽ đi lần lượt vào các cơ chế máy (caliber) nổi tiếng của các thương hiệu khác nhau để bạn đọc dễ hình dung và theo dõi.

Caliber 2609 của Raketa.

Đầu tiên theo đánh giá của tác giả, những cỗ máy của hãng Raketa đơn giản và đáng tin cậy nhất, tôi cũng có chung cảm nhận về điều này sau khi đã lên tay và trải nghiệm khá nhiều đồng hồ Liên Xô. Ở đây tôi sẽ liệt kê hai cơ chế máy bền bỉ và vô cùng ổn định của Raketa đó là: caliber 2609 21 chân kính lên cót tay được lắp trên dòng Raketa "Baltic" và 2609N lên cót tay với hai biến thể 16 và 19 chân kính. Cả hai cơ chế này tôi đều đã có cơ hộ lên tay và sau một thời gian theo dõi tôi thấy chúng làm việc rất hoàn hảo, đặc biệt những chiếc đồng hồ Raketa “baltika”, và raketa 2609N cũng được thiết kế và hoàn thiện rất đẹp. Tôi có làm một số video review lên tay những chiếc đồng hồ này và sẽ để đường dẫn video ở cuối bài viết. Caliber Raketa 2209 siêu mỏng không quá thành công, có nhiều vấn đề xảy ra trong quá trình vận hành. Mà trước hết, đó là dây tóc của nó quá mỏng và lớn, dẫn đến chúng không có đủ độ cứng, với một lực mạnh tác động từ bên ngoài, nó dễ bị uốn cong và có thể bám vào bánh xe cân bằng hoặc cầu do khoảng cách giữa chúng khá nhỏ, điều này có thể khiến đồng hồ ngừng hoạt động. Vấn đề này có thể được giải quyết nếu tiếp tục có một ngoại lực tác động vào chiếc đồng hồ.

caliber 2209 siêu mỏng của Raketa.

Dòng Poljot thì quá nổi tiếng với những người chơi đồng hồ không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Nga, đây là thương hiệu được sản xuất tại nhà máy đồng hồ số 1 Moscow và nó là dòng đồng hồ được xuất khẩu ra nhiều nước nhất trên thế giới. Nhìn chung những cỗ máy của Poljot khá thành công, nhưng các bệnh mãn tính của gần như tất cả các cơ chế này là đều bị mòn cầu trống (không giống như Rocket, chúng bám trên ống thép) và bánh xe trung tâm (bánh xe phút). Hỏng hóc này thường hay gặp trên caliber 2415 và caliber 2416 là hai caliber tự động của Poljot (một chiếc poljot tự động của mình trước đây đã phải thay bánh xe phút). Một vài thuật ngữ tôi không rõ bằng tiếng việt, chỉ hiểu bằng tiếng Nga nên không dịch sát được rất mong bạn đọc góp ý.

hình minh họa cầu trống, nơi chưa hộp cót trên chiếc slava.

Caliber 3017 Chronograph 19 chân kính lên cót tay là một bộ máy tốt, nhưng việc thiếu một incablock và các vấn đề liên tục với độ hở trong các bánh xe chronograph, khiến cho khả năng chống sốc của đồng hồ giảm đi, vì vậy không thể coi đây là cỗ máy lý tưởng. Caliber 3133 chronograph theo kiểu đòn bẩy thực sự là một cơ chế tốt, hầu như không có sai sót. Trừ khi một thiết kế lịch cực kỳ tinh vi và một bánh xe đồng hồ snotty. Răng cắt của bánh xe đồng hồ là một trong những khuyết điểm điển hình trên máy 3133.

hình ảnh incabloc - chi tiết nhỏ bé nhưng giúp tăng đáng kể khả năng chống sốc của đồng hồ.
Tôi xin tạm kết thúc bài viết tại đây. Trong phần tiếp theo tôi sẽ nói về những hãng còn lại: Vostok, Slava, Luch, Molniya ... Bạn có thể đọc phần 2 tại đây

Video liên quan:


Bài viết liên quan:

Wednesday, May 6, 2020

Nhà máy sản xuất đồng hồ Molniya - Ông vua đồng hồ bỏ túi của Liên Xô

Lịch sử của nhà máy đồng hồ Molniya bắt đầu từ năm 1947. Nhưng điều này chỉ đúng một phần. Sẽ đúng hơn nếu coi đó là năm cơ cấu tổ chức sản xuất đồng hồ ở Chelyabinsk ra đời và đó là cột mốc đánh dấu sự xuất hiện ở thủ đô của Nam Ural một ngành công nghiệp mới - ngành công nghiệp sản xuất đồng hồ. Lịch sử của chính nhà máy và những chiếc đồng hồ mà nó sản xuất, trên thực tế, đã ra đời từ trước đó và có nguồn gốc từ Hoa Kỳ, Thụy Sĩ.


Bộ sưu tập những chiếc Molniya bỏ túi. Nguồn molnija-ltd.ru
Xưởng sản xuất đồng hồ Chelyabinsk, xuất hiện ở Nam Urals năm 1947, được thành lập trên cơ sở của nhà máy Duber Hampton (Công ty đồng hồ Dueber-Hampden, 1877), được mua trên cơ sở chìa khóa trao tay theo quyết định của Stalin năm 1929 tại Hoa Kỳ. Vì vậy Nhà máy đồng hồ Chelyabinsk có thể được coi là người anh em cùng một cội với nhà máy sản xuất đồng hồ số 1 Moskva.


Đồng hồ Molniya gắn trên đá cẩm thạch
Tại thời điểm này, ở Nga một báo cáo về ngành công nghiệp sản xuất đồng hồ đang được tiến hành. Nhà máy đồng hồ số 1 Moscow được coi là nhà máy lớn nhất và có thể nói đó là nhà máy sản xuất đồng hồ đầu tiên của Liên Xô. Khi cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại bắt đầu, nhà máy đã được sơ tán đến Urals ở Zlatoust. Và sau khi chiến tranh kết thúc, người ta đã quyết định chuyển giao một phần thiết bị cho Chelyabinsk và từ đó tổ chức sản xuất đồng hồ tại đây đã được hình thành. Nhà máy đi vào hoạt động vào ngày 17 tháng 11 năm 1947, do đó ngày này được coi là ngày sinh nhật của nhà máy đồng hồ, và cái tên Молния “Lightning – Tia sét" được ra đời. Nhà máy được đặt tại trung tâm thành phố trong một tòa nhà bốn tầng, ban đầu được dành cho thư viện công cộng thành phố. Hơn một trăm công nhân và hơn ba mươi công nhân kỹ thuật và kỹ thuật đã được chuyển từ Zlatoust sang Chelyabinsk. Vào thời điểm đó, đây là người thợ tốt nhất của Liên Xô. 

Các sản phẩm đầu tiên của nhà máy là đồng hồ hàng không (những thiết bị đo giờ gắn trên máy bay) và tất nhiên Bộ Quốc phòng Liên Xô là khách hàng chính. Ngay trong năm 1948, một năm sau ngày khai trương, nhà máy đã sản xuất lô đồng hồ ABP-M đầu tiên gắn trên khoang lái của máy bay, những chiếc đồng hồ ABP-M ban đầu được phát triển và sản xuất bởi nhà máy đồng hồ số 1 Moscow.

Trong khoảng thời gian tiếp theo nhà máy đã làm chủ việc sản xuất đồng hồ hàng không ASF-1 theo công nghệ Thụy Sĩ. Nguyên mẫu cho ASF-1 là những chiếc đồng hồ hàng không được sản xuất bởi nhà sản xuất Thụy Sĩ lừng danh Jaeger Le Coultre cho ngành hàng không Liên Xô đến năm 1939.


Đồng hồ AFS-1 gắn trên MiG-15. nguồn Alltime.ru
Việc sản xuất những chiếc đồng hồ này đã trở thành trọng tâm chính của nhà máy trong tất cả các năm tiếp theo. Lịch sử của nhà máy thời gian này gắn bó chặt chẽ với lịch sử ngành hàng không Xô Viêt. Xuất hiện lần đầu tiên trong buồng lái, sau này trở thành biếu tượng của máy bay chiến đấu MiG-15, những chiếc đồng hồ nhanh chóng chứng mình được đ tin cậy và chỉ sau có 10 năm kể từ ngày đi vào hoạt động nhà máy đã sản xuất tới 30 nghìn chiếc đồng hồ đặc chủng mỗi năm. Những chiếc đồng hồ này được gắn trong buồng lái của tất cả các thế hệ máy bay chiến đấu của Liên Xô, vì vậy cái tên ASF trở thành tên cho các phi công Liên Xô và đã trở thành một danh từ chung liên quan đến đồng hồ hàng không giống như nhãn hiệu MiG đ chỉ bất kỳ máy bay chiến đấu nào của Liên Xô theo thuật ngữ của phương Tây lúc bấy giờ. Cùng với sự ra đời của các thế hệ máy bay chiến đấu mới thì chiếc đồng hồ ASF-1 cũng được cải tiến theo lời khuyên đến từ các phi công.


Những chiếc đồng hồ Molniya để bàn. nguồn molnija-ltd.ru
Song song với việc sản xuất đồng hồ chuyên dụng cho hàng không, nhà máy cho ra mắt các sản phẩm dân sự: đồng hồ bỏ túi và đồng hồ nội thất (đồng hồ treo tường và đồng hồ để bàn). Nhờ đồng hồ bỏ túi, thương hiệu Molniya đã trở thành một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất trên thị trường Nga, cũng như có uy tín và độ phủ sóng cao ở nhiều quốc gia trên thế giới: Hoa Kỳ, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Áo và thậm chí ở Thụy Sĩ. Vì lịch sử của ASF-1 gắn bó chặt chẽ với lịch sử hàng không Liên Xô và Nga, nên chiếc đồng hồ bỏ túi do Molniya sản xuất đã trở thành một sự phản ánh một phần lịch sử của đất nước. Đặc biệt là kỷ niệm 30 năm Chiến thắng vĩ đại, một loạt đồng hồ đã được phát hành, trên nắp có hình nền biểu ngữ, dòng chữ "30 năm và hai mốc thời gian: 1945-1975 ". Trên nắp còn lại là hình ảnh của Ngọn lửa vĩnh cửu và dòng chữ: "Không ai bị lãng quên, không có gì bị lãng quên". Một chiếc đồng hồ có hình ảnh của Stalin cũng được phát hành. Có những chiếc đồng hồ với chiến hạm rạng đông huyền thoại biểu tượng của cách mạng tháng 10, với một mặt in năm 1917 và một bản đồ của đất nước và mặt khác khắc dòng chữ 60 năm nắm chính quyền của Đảng cộng sản Xô Viết.


Những chiếc đồng hồ Molniya với những bản khắc biểu tượng thời kỳ Xô Viết. Nguồn chasyinfo.ru
Ban tổ chức Thế vận hội mùa Moscow năm 1980 đã chọn thương hiệu đồng hồ "Molniya" làm quà tặng cho những thành viên tham gia Đại hội thể thao lớn nhất thế giới này. Vỏ của chiếc đồng hồ này được trang trí với hình ảnh chú Gấu linh vật của Olympic, một số khác là hình ảnh của các võ sĩ và đô vật, cũng như năm vòng tròn đan xen biểu tượng của Olympic (thể hiện sự đoàn kết giữa các châu lục) và dòng chữ "Moscow 80".


Đồng hồ Molniya Olimpic Moscow 1980.
Phiên bản đặc biệt dành cho những người xây dựng BAM (Đường sắt Baikal-Amur) là một loạt những chiếc đồng hồ đã được tạo ra theo một bản phác thảo được phát triển bởi chính các thành viên Komsomol (Đoàn thanh niên). Một chiếc đồng hồ hai đáy được chế tạo cho các thợ mỏ. Những chiếc đồng hồ bỏ túi Molniya cũng rất phổ biến ở các nước khác. Chúng được xuất khẩu sang hơn 30 quốc gia trên thế giới. Một chiếc đồng hồ âm nhạc bỏ túi được sản xuất theo đơn đặt hàng của Hoa Kỳ, nắp của nó được trang trí với hình ảnh lá cờ Mỹ và dòng chữ "Bless America", và khi nó được mở ra, quốc ca Hoa Kỳ sẽ vang lên. Ngoài ra còn có những chiếc đồng hồ bỏ túi khổng lồ với một chuỗi trong bộ sưu tập Zippers, trên nắp có một bức phù điêu đầu máy hơi nước Thổ Nhĩ Kỳ. Trước khi ký hợp đồng với Molniya, những khách hàng Thổ Nhĩ Kỳ đã tiến hành phân tích so sánh kỹ lưỡng về cơ chế của đồng hồ bỏ túi với đồng hồ Thụy Sĩ và đưa ra lựa chọn ủng hộ đồng hồ Chelyabinsk bằng cách thêm điều khoản bảo hành đến 20 năm trên những chiếc đồng hồ này, vì vậy họ rất tự tin vào chất lượng của chúng. Tất cả những chiếc đồng hồ này ngày nay rất hiếm và có giá trị sưu tầm rất cao.

Những chiếc đồng hồ với chất lượng cao của Nhà máy đã được công nhận trên toàn thế giới. Molniya là chủ sở hữu của nhiều giải thưởng và danh hiệu. Đáng kể nhất trong số đó là: Ngôi sao kim cương chất lượng quốc tế (Mexico), Quả cầu vàng (Đan Mạch) cho thành công trong kinh doanh và Golden Arch of Europe. Ngoài ra, nhà máy đã được trao giải thưởng cho thương hiệu, công nghệ và chất lượng tốt nhất ở Madrid. Bên cạnh đó, nhà máy còn nhận những giải thưởng khác: giải thưởng thương hiệu uy tín thương mại" (Áo), giải thưởng sự trung thành với những lý tưởng chất lượng" (Thụy Sĩ), giải thưởng "Golden Eagle" (Pháp) vv...

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng toàn cầu của đồng hồ cơ trong cuộc cách mạng thạch anh đã đình chỉ sự phát triển năng động của nhà máy Molniya nói riêng, và các nhà máy sản xuất đồng hồ cơ nói chungDưới tác động của thời kỳ khủng hoảng và tan rã của Liên Xô Nhà máy đã ngưng sản xuất đồng hồ bỏ túi và đồng hồ trang trí nội thất, chỉ giữ lại dây chuyền sản xuất các đồng hồ hàng không. Năm 1997, do sự chuyển đổi của các doanh nghiệp quốc phòng, các đơn đặt hàng từ Bộ Quốc phòng cũng gần như không còn nữa, điều này khiến cho nhà máy trên bờ vực phá sản. Mặc dù khó khăn là vậy, nhưng việc sản xuất các bộ máy đồng hồ vẫn được bảo tồn, vì vậy nhà máy có thể tiếp tục sản xuất đồng hồ hàng không càng sớm càng tốt, khi có các đơn hàng trở lại.

Ngày nay, nhà máy Molniya là nhà cung cấp đồng hồ cơ chính xác cho quân đội Nga. Trên các dòng máy bay quân sự: tiêm kích MIG-29, máy bay ném bom TU-160, trực thăng hai tầng cánh quạt Kamov: K-15, K-50, K-52 và các loại khác được trang bị đồng hồ hàng không do Molniya sản xuất. Nhà máy cũng sản xuất các thiết bị đo thời gian cơ học có độ chính xác cao khác có khả năng hoạt động trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt và trong môi trường khắc nghiệt. Các thiết bị này được cài đặt trên tàu, xe chỉ huy và máy liên lạc. Hiện tại, "Molniya" đang trải qua giai đoạn phục hồi tài chính và đầu tư nghiêm túc: công ty đang tích cực nâng cấp thiết bị công nghệ, mở rộng cơ sở sản xuất, cải tiến quy trình kinh doanh nội bộ và chuẩn bị cho ra mắt những sản phẩm mới.

Nguồn lược dịch tại trang web: ussr-watch.com

Do nhiều hình ảnh có bản quyền nên các bạn có thể xem qua những web này mình để link bên dưới:
diễn đàn những chiếc đồng hồ Molniya
bộ sưu tập một vài mẫu Molniya
trang chủ nhà máy Molniya

Bài viết liên quan:
Những chiếc đồng hồ vàng đúc đẹp nhất thời Liên Xô
Những chiếc đồng hồ tốt nhất trong kỷ nguyên chế tác đồng hồ Liên Xô
Nhà máy đồng hồ số 1. Đồng hồ Poljot

Các bạn theo dõi kênh review đồng hồ Liên Xô của mình tại đây .


Monday, April 27, 2020